Ở khoa Ngoại Y học cổ truyền, mình thường dùng cặp thuốc này khi gặp những trường hợp chấn thương phần mềm có bầm tím, sưng nề, với mục tiêu hoạt huyết, khứ ứ, giảm đau.


Làm việc tại khoa Ngoại mình thích dùng các chế phẩm Y học cổ truyền cho bệnh nhân
Làm việc tại khoa Ngoại mình thích dùng các chế phẩm Y học cổ truyền cho bệnh nhân

Mình có thời gian nghiên cứu và nhận ra câu chuyện của Đan sâm – Tam thất thú vị hơn nhiều từ những ghi chép cổ đến các nghiên cứu hiện đại, câu chuyện này khá thú vị.

Câu chuyện bắt đầu từ rất lâu trước những viên thuốc hiện đại

Bản THảo Cương Mục - Lý Thời Trân mô tả Đan sâm có tác dụng hoạt huyết hóa ứ

Đan sâm là một vị thuốc có lịch sử sử dụng lâu đời trong Y học cổ truyền Trung Quốc. Vị thuốc này đã được ghi nhận trong Thần Nông Bản Thảo Kinh, với công năng liên quan đến các chứng bệnh vùng tâm phúc. Đến thời Minh, Lý Thời Trân trong Bản Thảo Cương Mục tiếp tục mô tả Đan sâm với tác dụng liên quan đến huyết và công năng hoạt huyết hóa ứ.

Còn Tam Thất, một trong những ghi chép sớm được xác minh về Tam thất là trong Tiên Truyền Ngoại Khoa Bí Phương của Dương Thanh Tẩu, xuất bản vào năm 1378. Tam thất được sử dụng trong các phương thuốc điều trị thương tích. Sau này, trong Bản Thảo Cương Mục Thập Di, Tam thất được đề cao với vai trò bổ huyết. Từ đó hình thành một cách nhìn khá nổi tiếng trong Y học cổ truyền: nhân sâm thiên về bổ khí, Tam thất thiên về bổ huyết, cả hai đều là những vị thuốc quý.

Từ bài thuốc cổ đến chế phẩm hiện đại


Chế phẩm Đan Sâm - Tam Thất của Traphaco
Chế phẩm Đan Sâm - Tam Thất của Traphaco

Điều thú vị là cặp thuốc này không chỉ tồn tại trong các bài thuốc cổ truyền mà còn được phát triển thành những chế phẩm hiện đại. Một ví dụ nổi bật là Phức phương Đan sâm (Compound Danshen Dripping Pills), một chế phẩm được phát triển tại Trung Quốc từ bài thuốc phối hợp Đan sâm, Tam thất và Băng phiến.
Tại Việt Nam, cặp thuốc này cũng có mặt khá lâu dưới dạng viên nén quen thuộc, tiêu biểu là sản phẩm Đan sâm – Tam thất của Traphaco. Thành phần: mỗi viên chứa cao Đan sâm (Salviae Miltiorrhizae Radix) khoảng 100mg, phối cùng cao Tam thất (Panax notoginseng) khoảng 70mg.Chỉ định:Phòng và trị chứng đau thắt ngực, đau nhói vùng tim do huyết ứ, thiểu năng mạch vành, cảm giác ngột ngạt trong ngực. Đau đầu do huyết ứ (đau nhói từng cơn), thiểu năng tuần hoàn não, sa sút trí nhớ do lưu thông máu não kém.

Không có một tỷ lệ Đan sâm – Tam thất duy nhất

Điều khiến mình bất ngờ nhất khi đọc sâu hơn, là hoá ra ngay trong giới nghiên cứu hiện đại, không có một tỉ lệ Đan sâm – Tam thất duy nhất được xem là đúng cho mọi mục đích. Mỗi tỉ lệ dường như kể một câu chuyện tác dụng khác nhau.

Khi các nhà khoa học thử nghiệm trên mô hình chống huyết khối, tỉ lệ mười phần Đan sâm trên một phần Tam thất cho hiệu quả tốt nhất. Nhưng khi chuyển sang thử nghiệm kháng viêm trên tế bào, tỉ lệ tối ưu lại đổi thành tám phần Đan sâm trên hai phần Tam thất. Đến khi thử trên mô hình bảo vệ tế bào nội mô mạch máu, tỉ lệ sáu bốn lại nổi lên là phù hợp nhất.

Còn khi mục tiêu là hoạt huyết tán ứ, giống như trong các ca chấn thương mô mềm, phần Tam thất lại cần nhỉnh hơn hẳn Đan sâm, khoảng ba trên một. Đọc đến đây mình chợt nghĩ, hoá ra người xưa khi gia giảm liều lượng theo từng thể bệnh, họ đã biết điều mà khoa học hiện đại giờ mới chứng minh được bằng con số cụ thể.

Đọc đến đó, mình mới hiểu vì sao mỗi lần cầm hộp thuốc quen thuộc trên tay, mình chỉ đang thấy một phần rất nhỏ của cả một hành trình nghiên cứu dài phía sau. Cái công dụng "tan bầm" mà mình vẫn quen dùng cho bệnh nhân chấn thương, hoá ra chỉ là một góc nhỏ trong bức tranh lớn hơn nhiều mà các nhà khoa học đã bỏ công tìm hiểu suốt mấy chục năm qua.